MỘT NỐT TRẦM XAO XUYẾN…

Tháng Mười Một 9, 2018 8:12 sáng

MỘT NỐT TRẦM XAO XUYẾN…

Kính tặng:  Thầy Nguyễn Quang Đăng

Có một lần bất chợt, tôi được nghe những ca từ trong bài hát“Mùa xuân nho nhỏ”- phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Thanh Hải:

“ Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc…

Ta  làm con chim hót

Ta làm một nhành hoa

Một nốt trầm xao xuyến

Tan biến trong hòa ca…

Tuổi thanh xuân chỉ đến bên cuộc đời mỗi người chỉ có một lần. Có lã tạo hóa ban cho chúng ta tuổi xuân cũng là để cống hiến. Tuy nhiên con đường chúng ta đi không phải lúc nào cũng trải hoa hồng. Trên những chặng đường ấy có biết bao gian khổ . Biết là vậy nhưng chúng ta vẫn luôn chấp nhận nó. Mạnh mẽ đương đầu với mọi sóng gió bất chấp mọi khó khăn gian nan dù là tuổi hai mươi, dù là khi tóc bạc. Để rồi một lúc nào đó trong cuộc đời, ta được làm một con chim, một nhành hoa hay chỉ là một nốt trầm xao xuyến tan biến trong bản hòa ca cùng với tiếng đàn. Và trên cuộc đời này có biết bao tấm gương toả sáng mang lại vinh quang cho mình cho xã hội, lưu lại  tiếng vang cho tới các thế hệ mai sau. Đâu đó cũng có những tấm gương, những con người âm thầm lặng lẽ cống hiến hết thân mình cho xã hội chỉ với một mong muốn cho mọi người có cuộc sống tốt hơn, mà quên đi lợi ích của bản thân mình. Người tôi muốn kể với mọi người hôm nay là thầy giáo Nguyễn Quang Đăng – Một tấm gương sáng trong nghề giáo.

Năm 1956, lúc bấy giờ Đảng ta kêu gọi toàn dân xóa nạn mù chữ, đẩy lùi giặc dốt. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng ấy, ông bắt đầu bước chân vào nghề dạy học. Ban  đầu, ông chỉ dạy cho những đứa trẻ trong vùng, lớp học chỉ lèo tèo vài ba đứa, sau rồi dần đông lên. Rồi cứ thế nhiều người từ nhỏ tới lớn đều biết đọc biết viết. Mọi người kính trọng gọi ông là thầy giáo. Trong ngôi nhà nhỏ lợp bằng mái tranh, lúc nào cũng ấm áp tiếng giảng bài của thầy, tiếng cười nói rộn rã của những người  học trò vùng cao. Nhà nghèo, nhưng đôi khi ông vẫn mời mọi người rổ khoai lang nóng hổi hay mẻ cốm giòn rụm, ăn cho đỡ đói. Thời gian cứ thấm thoắt trôi…

Đến tháng 9 thì ông được Đảng gọi vào dạy học ở trường……. , Vào lúc đó nghề dạy học rất ít người theo, bởi lẽ chiến tranh người ta nghĩ nhiều đến tính mạng của mình, chứ nói gì đến việc truyền đạt con chữ. Rồi thêm cái nghèo,cái khổ cái đói bám riết khiến nhiều người  bỏ nghề quay trở về gắn bó lại mấy sào ruộng, mảnh vườn mong kiếm sống qua ngày. Về phần ông, gia đình còn mẹ già bệnh nặng, người vợ còn trẻ vừa mới cưới. Mọi thứ còn phải đợi bàn tay ông sắp xếp tưởng chừng như ông lại giống như bao người khác, ở lại cùng vợ con gánh vác chuyện gia đình. Thế mà lương tâm ông không cho phép. Ông gửi gắm mẹ già lại cho người vợ rồi lại tiếp tục cùng với chiếc xe đạp Thống nhất khung  cà tàng vượt từng dặm đường đưa con chữ đến cho các em. Đường đi rất khó khăn. Phương tiện đi lại thì thô sơ, chưa có những cây cầu hay đường bê tông như bây giờ. Quảng Bình lúc bấy giờ rất khốc liệt, bom bắn phá khắp nơi. Nhưng bằng sự  đam mê, lòng nhiệt huyết và tình yêu nghề ông lại tiếp tục vượt qua những khó khăn nguy hiểm đó để đến với trường với các em. Lớp học được chìm dưới lòng đất. Những tiếng đạn bom không át được những lời giảng nồng ấm tình người  của ông. Những nguy hiểm không thắng được ý chí mạnh mẽ của người thầy vùng cao ấy. Từng lớp trẻ ra trường đỗ đạt, thành tài dưới bàn tay dìu dắt của ông. Ông như người lái đò cần mẫn đưa từng lớp người qua sông mặc cho mưa bão, giông tố. Khi những học trò thành đạt của ông khắc ghi công ơn đó, trở về tìm lại người thầy năm xưa để trả ơn. Nhưng ông chỉ mỉm cười không nhận bất kì một thứ gì. Nếu có cái bánh hay gói kẹo ông cũng mang tới lớp chia sẽ cho những đứa học trò của mình. Và rồi Người thầy đó vẫn miệt mài bên trang giáo án, chèo những chuyến đò tri thức đưa biết bao thế hệ qua sông…

* * *

Năm 1966, ghi nhận những cống hiến của người thầy cả một đời hi sinh cho nghề dạy học, Đảng và nhà nước bổ nhiệm ông làm Hiệu trưởng tại trường Trung học phổ thông số 2 Quảng Trạch. Trách nhiệm mới của ông lại nặng nề hơn, bởi ông phải tiếp tục duy trì trường lớp, duy trì số lượng học sinh trong bối cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ ngày càng ác liệt. Trong khi đó ở gia đình người vợ của ông đang mang thai đứa con đầu lòng. Gánh nặng chồng chất, ông đã nghĩ rằng không nhận quyết định đó để ở lại công tác tại trường, để được gần gũi với gia đình hơn. Nhưng vợ ông thấy được niềm đam mê trong đôi mắt của chồng, nên bà lại động viên ông tiếp tục sự nghiệp trồng người ở một vùng đất khác. Quảng đường đi làm bây giờ lại xa hơn phải vượt sông suối, có những lúc đôi chân ông mỏi nhừ, những giọt mồ hôi nặng trĩu,  thế nhưng ông vẫn tiếp tục cuộc hành trình cùng chiếc xe đạp cũ giữa mưa bom bão đạn, hơn một lần chiến tranh đã hằn sâu vào thân thể ông những vết thương ..

Chiến tranh ngày càng ác liệt hơn khi Mỹ tiến hành ném bom vào những trường học nhằm phá hoại nền văn hóa nước ta, khi mà các chiến sĩ trên mặt trận cầm súng để chiến đấu hết mình. Thì ở hậu phương, những người như ông cũng cầm bút để chiến đấu bằng những bài thơ bài văn, cổ vũ các chiến sĩ chiến đấu hết mình, và làm công tác tư tưởng cho các thầy cô các học sinh tiếp tục đến trường đến lớp. Năm 1974 Đảng ta thấy được những cống hiến to lớn của ông đã tiếp tục bổ nhiệm ông làm Hiêu trưởng Trường sư phạm 10+3 Quảng Bình. 1977 là  Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông số 1 Bố Trạch, năm 1980 Hiệu trưởng trường phổ thông sô 2 Bố Trạch. Đến năm 1990, khi mà sự nhiệt huyết của ông vẫn không thắng được tuổi già, khi mà đôi mắt ông đã nhòa đi. Khi mà nơi quê nhà gia đình còn đợi ông về để lo toan và gánh vác. Thì lúc đó ông mới trút bỏ gánh nặng công việc để nghỉ ngơi. Nói là nghỉ ngơi nhưng đâu phải như vậy, vợ ông sinh được người con út nhưng cậu lại mắc một căn bệnh kì quái, ông cùng vợ chạy chữa khắp nơi nhưng không được. Vợ chồng ông lại mang con về chăm sóc. Có những lúc thức trắng đêm bên đứa con nhỏ, những giọt nước mắt tưởng như  không rơi, thế mà nó đã rơi khi ông nhìn con và vợ.

Vậy là khi về già, lúc mà khi con người ta được an dưỡng, sum họp, quây quần bên con cháu. Thì ông vẫn cặm cụi bên bàn làm việc, lặn lội đến từng nhà khuyến khích động viên, tặng quà cho các con em đến trường. Những đóng góp của ông đã được nhân dân ta và nhà nước ghi nhận. Ông được tặng thưởng nhiều huy chương và huân chương. Nhìn vào những tấm bằng khen, người ta sẽ nghĩ rằng tài sản của ông sẽ rất lớn, thế mà cuối đời ông vẫn giữ căn nhà gỗ đơn sơ, với một mảnh vườn nhỏ cùng chiếc xe đạp cũ kĩ. Và quý giá nhất vẫn là tủ sách của mình.  Khi những học trò cũ về muốn xây lại căn nhà cho ông nhưng ông xua tay từ chối, ông bảo:” Già rồi! Thầy chỉ thích thế này thôi”.

Cuộc đời của một nhà giáo gương mẫu là vậy đấy. Chỉ gói gọn trong hai chữ “cống hiến”. Hằng ngày vẫn cùng chiếc xe đạp nhiều kĩ niệm bôn ba trên từng dặm đường làm công việc xã nhà giao cho. Ông chính là một tấm gương sáng cho những người giáo viên trẻ như chúng ta hôm nay kính trọng, ngưỡng mộ và nguyện đem hết tài năng và trí tuệ của mình đi theo ánh sáng con đường ông đã bước đi..

Tôi nghe vang lên đâu đó câu hát quen thuộc:” ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai? Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình…

Người thầy giáo của tôi . Xin được phép gọi bằng thầy. Dù thầy không dạy tôi tri thức nhưng đã dạy cho tôi thứ lớn lao hơn đó – bài học làm người, bài học học về nghề giáo. Cuộc đời thầy không rộn rã như một bản nhạc, nó chỉ là một nốt trầm lặng lẽ trong vô vàn thanh âm của cuộc sống. Nhưng nốt trầm ấy đã âm thầm gieo những hạt mầm của tương lai, gieo những hạt niềm tin cho đời và cho thế hệ trẻ chúng ta hôm nay tiếp tục cuộc hành trình trong sự nghiệp trồng người để hoàn thành bản nhạc đàn mà thầy còn dang dở. Thầy ơi, hôm nay trên những núi đồi Xuân Trạch thân yêu của chúng ta, hoa dẻ trắng đã bắt đầu nở rộ, một ngày 20 – 11 nữa lại về. Chúng con, những người học trò đã từng một thời được thầy thương yêu dìu dắt xin nguyện đem hết tâm hồn và tri thức của mình, viết thêm vào cuộc đời , những nốt nhạc trầm xao xuyến …Chúng con yêu thầy như yêu chính con đường mà chúng con đã chọn.